Chiến sĩ Bùi Quang Thận (cầm cờ, phía trước) cùng 3 chiến sĩ của Quân đoàn 2 - Binh đoàn Hương Giang tiến vào cắm cờ trên nóc Phủ Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975. Ảnh: Vũ Tạo/TTXVN
Từ kháng chiến trường kỳ, đất nước bước ra trong niềm vui đoàn tụ, non sông một dải. 51 năm trôi qua, dấu son hào hùng ấy không chỉ để nhớ, mà còn để soi chiếu hôm nay và nhắc mỗi chúng ta về giá trị và trách nhiệm gìn giữ hòa bình, nuôi dưỡng khát vọng lớn, đưa Việt Nam vươn tới tương lai giàu mạnh.
Ngày 30/4/1975 là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Nhưng để có ngày toàn thắng ấy là một chặng đường dài của gian khổ, hy sinh. Sau Hiệp định Geneva năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt. Người Việt Nam không chấp nhận sự chia cắt ấy. Trong sâu thẳm, ai cũng hiểu một chân lý, một sự thật giản dị như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”.
Vậy mà đế quốc Mỹ đã âm mưu biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới. Vỹ tuyến 17 trở thành giới tuyến chia đôi đất nước. Đế quốc đã dựng lên một chính quyền tay sai, gây nên bao đau thương, mất mát.
Những năm tháng ấy, thống nhất không chỉ là mục tiêu chính trị, mà là khát vọng sống, là nguyện ước hòa bình của cả dân tộc. Từ Bắc vào Nam, từ đồng bằng đến miền núi, từ hậu phương đến tiền tuyến, hàng triệu người con đã đứng lên. Người Bắc vào Nam, người Nam ra Bắc rồi xẻ dọc Trường Sơn cứu nước với một niềm tin sắt đá: Hai miền đất nước phải được đoàn tụ, non sông phải được thống nhất, nhân dân phải được sống trong hòa bình.
Gần 21 năm kháng chiến là gần 21 năm tôi luyện ý chí dân tộc. Chiến tranh thử thách con người đến tận cùng nhưng khát vọng thống nhất còn cháy bỏng hơn. Bao nhiêu xương máu đã đổ xuống. Bao nhiêu gia đình chịu cảnh chia ly. Song tất cả đều sẵn sàng “không nghĩ đến thân mình”, sẵn sàng “sống chết cho đất nước”.
Điều gì làm nên sức mạnh ấy?
Không phải điều gì xa xôi, mà đó chính là lòng yêu nước, là niềm tin vào ngày mai, là khát vọng để con cháu mai sau được sống trong một đất nước hòa bình, thống nhất, được tự do đi lại, được mưu cầu hạnh phúc.
Trong bão lửa chiến tranh, dân tộc ta đã đứng vững. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta từng bước đánh bại mọi chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai. Và rồi, mùa Xuân năm 1975 đã đến. Năm cánh quân tiến vào Sài Gòn, lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30/4/1975 đã kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc.
Nhưng sau ngày thống nhất cũng là muôn vàn khó khăn. Đất nước bị tàn phá nặng nề, kinh tế nghèo nàn, đời sống nhân dân thiếu thốn. Song, dân tộc Việt Nam quyết không lùi bước. Từ đổ nát, chúng ta bắt tay vào tái thiết. Từng con đường, từng nhà máy, từng cánh đồng được hồi sinh. Trí tuệ và những giọt mồ hôi tiếp nối những hy sinh trong chiến tranh để dựng xây đất nước, để phát triển.
40 năm qua, đất nước đã thay đổi sâu sắc. Từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu sau chiến tranh thì đã lên đến hơn nửa nghìn tỷ USD vào năm 2025, vươn lên vị trí thứ 32 thế giới. Thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 5.000 USD, đưa Việt Nam tiến sát nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Đó không chỉ là những con số tăng trưởng mà là minh chứng cho một hành trình vươn lên mạnh mẽ từ xuất phát điểm rất thấp.
Những “toạ độ lửa”, những “địa chỉ đỏ” năm xưa như Trường Sơn, Khe Sanh, Quảng Trị, Côn Đảo, Củ Chi đã xanh màu của hòa bình, của phát triển. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều đã giảm xuống còn khoảng 2%, trong khi bốn thập niên trước là trên 6%. Đổi thay đó cho thấy thành quả phát triển đã lan toả đến đời sống người dân, không chỉ ở đô thị, mà cả vùng sâu, vùng xa, nơi biên cương và hải đảo.
Không chỉ phát triển về kinh tế, vị thế quốc tế của Việt Nam không ngừng được nâng cao. Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, tham gia sâu rộng vào các thể chế đa phương, nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại toàn cầu. Từ một quốc gia bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Những thành quả ấy không tự nhiên mà có. Đó chính là sự “hiện thực hóa” những hy sinh của các thế hệ đi trước. Máu xương đã hóa thành những con đường, những thành phố, những khu công nghiệp, những mái trường, bệnh viện. Sự hy sinh ấy hôm nay đang hiện diện trong từng đổi thay của đất nước, trong từng bước tiến của dân tộc.
Hôm nay, đất nước kỷ niệm 51 năm ngày non sông thống nhất. Nhìn lại Đại thắng mùa Xuân năm 1975 càng hiểu rõ và hiểu sâu sắc hơn, đó không chỉ là chiến thắng quân sự mà đó là chiến thắng của ý chí độc lập, của quyền tự quyết dân tộc. Một dân tộc đã gan góc tự quyết định vận mệnh của mình, tự mở ra con đường tương lai. Để chính từ nền tảng ấy, Việt Nam bước vào kỷ nguyên hòa bình, thống nhất và xây dựng đất nước.
Và ngày nay, trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, diễn biến hết sức phức tạp thì lại càng thấm thía hơn giá trị của một quốc gia thống nhất, ổn định và có định hướng phát triển rõ ràng.
Song bên cạnh những thành tựu to lớn, đất nước còn không ít khó khăn, thách thức. Nền kinh tế còn hạn chế về sức cạnh tranh, nguy cơ tụt hậu vẫn hiện hữu. Tệ tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chưa được đẩy lùi triệt để. Thế giới biến động nhanh, khoa học công nghệ phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu đổi mới sâu sắc hơn nữa...
Bước vào giai đoạn 2026-2030, mục tiêu đặt ra là không chỉ tăng trưởng, mà là tăng trưởng nhanh và bền vững, với kỳ vọng đạt mức hai con số. Đến năm 2030, phấn đấu đưa quy mô kinh tế vào nhóm 30 thế giới, thu nhập bình quân đầu người khoảng 8.500 USD, kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP. Đây là những mục tiêu lớn, đòi hỏi quyết tâm lớn, hành động quyết liệt và đổi mới sâu sắc.
Năm 2026, đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những quyết sách quan trọng được xác lập từ Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Kỳ họp thứ Nhất của Quốc hội khóa XVI. Một chặng đường mới đã mở ra với yêu cầu cao hơn, nhanh hơn, mạnh hơn.
Từ mùa Xuân năm 1975 đến hôm nay là hành trình 51 năm. Hành trình ấy cho thấy một chân lý, khi cả dân tộc đồng lòng, đoàn kết và khi khát vọng được nuôi dưỡng, thì không có khó khăn nào không thể vượt qua.
Hôm nay, kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì mỗi chúng ta không chỉ nhớ dấu son, tự hào lịch sử, mà còn phải tự nhắc mình và phải hành động. Nhắc về giá trị của hòa bình, độc lập, thống nhất và trách nhiệm tiếp nối. Nhắc về xương máu của cha ông đánh đổi cho nước nhà được thống nhất, đi tới giàu mạnh.
Niềm tin của lịch sử đang đặt ở hiện tại. Và hiện tại phải được trả lời bằng hành động. Bằng sự nỗ lực mỗi ngày. Bằng quyết tâm đổi mới, sáng tạo. Bằng tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Tương lai của một Việt Nam hòa bình, hùng cường, thịnh vượng không phải xa vời. Mỗi người dân nước Việt phải được sống trong ấm no, hạnh phúc.
Con đường phía trước dẫu nhiều thách thức nhưng nền tảng đã có, cơ đồ đã hình thành, tiềm lực và vị thế cũng đã khác trước rất xa. Đó chính là điểm tựa để nuôi dưỡng khát vọng đến năm 2045 đưa Việt Nam sánh vai các cường quốc năm châu.
Theo TTXVN